Vì sao sách thiếu nhi lại quan trọng?

Tranh minh hoạ của Inga Moore

Truyện hư cấu dành cho thiếu nhi có tiềm lực mời gọi một lối sống khác đi. Vào lúc này, đó là điều ta cần hơn bao giờ hết.

Vì sao sách thiếu nhi lại quan trọng? Trong một bài luận dài viết về tác phẩm Alice ở xứ sở thần tiên và nhà văn Lewis Carroll, WH Auden bày tỏ: “Có những cuốn sách hay nhưng chỉ dành cho người lớn, vì muốn đọc thấu suốt thì cần có trải nghiệm của người lớn; nhưng làm gì có cuốn sách hay nào lại chỉ dành cho trẻ con.”

Quả thực là vậy. Và điều gì làm nên một cuốn sách có ý nghĩa với mọi lứa tuổi? Tôi nghĩ rằng chúng ta - những nhà văn viết cho người lớn và trẻ em với sự nghiêm túc ngang nhau (vốn không có nhiều người như thế) - đều biết rằng viết sách thiếu nhi là một sứ mệnh đặc thù. Bạn đang viết cho những tâm hồn thuần khiết trước văn chương, một cá thể không định kiến về việc một câu chuyện nên thế nào, cư xử ra sao. Vậy nên… hãy buông bỏ và sải cánh, trút bỏ giả định của chính bạn về việc kể chuyện.

Đúng là khi viết cho trẻ em, văn phong có thay đổi; nhưng bạn không hạ thấp ngòi bút xuống để “ngang bằng” các em. Bạn viết từ chính mối bận tâm và hứng thú của người lớn; từ chất liệu này, bạn tiết chế, nhào nặn, căn chỉnh. Nhưng ở đây (lại là lời Auden), trải nghiệm của người lớn giữ vị trí hậu phương: bạn tìm về bản thân mình thuở thiếu thời, nhưng cũng sở hữu thứ quyền năng kỳ diệu là khả năng biểu đạt của người lớn.

Các giải thưởng tạo ra sự hứng thú với sách, không chỉ với một vài cuốn đoạt giải mà với sách nói chung. Vậy nên thật mừng khi biết giải The Booker dành cho sách thiếu nhi vừa ra đời. 

Trẻ sẽ học tốt hơn ở trường nếu em đọc sách và được đọc cho nghe. Khác với nhiều người, thực ra tôi không quá màng chuyện các em học tốt hơn ở trường. Điều tôi quan tâm là trạng thái tinh thần, là cú thâm nhập vào những gợi mở về thiện ác, bổn phận đạo đức, về các tiềm năng xã hội, về những thế giới khác.

Cháu trai sáu tuổi của tôi có sở thích văn chương dao động từ Vlad the Drac, một câu chuyện về ma cà rồng bé con viết vào thập niên 1980, đến bài thơ The Jumblies viết năm 1871 về những thuỷ thủ vượt biển trên một cái nia. Văn học thiếu nhi không bị thời gian ràng buộc: nó dong buồm tự do, bất kể được viết hôm qua hay cách đây cả trăm năm.

Tác giả viết tiểu thuyết người lớn thuộc về thời của họ. Những vấn đề của thời đại thường len lỏi vào câu chuyện, cũng như thái độ và giả định của họ. Chúng ta đang viết vào lúc này. Chúng ta phản ánh thời gian và nơi chốn của mình. Chúng ta cần làm vậy.

Nhà văn viết sách thiếu nhi có quyền rời bỏ thời gian và không gian để kiến tạo, đề đạt các khả thể mới. Đó vừa là sự nuông chiều, vừa là rủi ro. Nhà văn phải tìm ra một thứ ngôn ngữ, một vũ trụ có thể thuyết phục tất cả: tâm hồn ngây thơ trước văn chương là trẻ nhỏ, và độc giả phức tạp là người lớn. Đây là điều những kiệt tác văn học thiếu nhi đã làm được.

Sách thiếu nhi bất hủ (hay còn gọi là kiệt tác) đơn thuần là những tác phẩm đã trở thành dấu son văn hóa và có sức hút với mọi người kể cả người lớn hay trẻ em. Cứ như thế, chúng khắc dấu triện vào hàng triệu tâm trí, như một thành tố then chốt trong không gian nội thất của trí tưởng tượng. Auden đã viết về Alice, có lẽ vì đây là ví dụ nguyên bản và nổi bật nhất của hiện tượng này. Ngay cả những người chưa bao giờ đọc kĩ tác phẩm của Carroll cũng cảm thấy quen thuộc kỳ lạ với Mèo Cheshire, Rùa Giả, Humpty Dumpty, Tweedledum và Tweedledee.

Đó mới chỉ là khởi đầu, sau đó còn nhiều nữa: Chuột nước, Chuột chũi và Cóc ở Dinh thự Cóc của Kenneth Grahame; tài nghệ của Edith Nesbit khi khắc hoạ cả cõi hiện thực lẫn cõi huyền ảo đều hay như nhau. Tiếp nối là thời kỳ hoàng kim của văn học thiếu nhi vào giữa và cuối thế kỷ 20. Laura Ingalls Wilder tái hiện đời sống của những người khai hoang ở vùng thảo nguyên Mỹ, khi đọc tưởng chừng huyễn tưởng nhưng thực ra là hiện thực lịch sử. The Borrowers (Những kẻ vay mượn) của Mary Norton khiến độc giả mê ly ý tưởng về một vũ trụ khác dưới sàn nhà. Philippa Pearce có sự làm chủ kì diệu với thời gian và không gian trong Tom’s Midnight Garden (Khu vườn lúc nửa đêm của Tom); Where the Wild Things Are (Ở nơi quỷ sứ giặc non) của Maurice Sendak làm bật sáng những náo loạn hoang dại cho mọi lứa tuổi.

Với rất nhiều người, những tác phẩm này và hàng loạt tác phẩm khác là bước thoát ly đầu tiên khỏi “nhà tù của cái tôi”, là cú nhảy kinh ngạc sơ khởi vào một chuỗi sự kiện thay thế, vào sự gợi nhắc về cái lạ lùng, cái khác biệt.

Đứa trẻ biết đọc trở thành người lớn biết đọc. Nhiều người lớn không đọc để hưởng thụ; tôi e phần lớn là vậy. Và trong kỷ nguyên thiết bị hiện diện khắp nơi, điều đó dường như đúng với đa số trẻ em: một báo cáo gần đây của National Literacy Trust (Quỹ quốc gia hỗ trợ kĩ năng đọc - viết) cho biết: chỉ một trong ba trẻ em và thanh thiếu niên 8–18 tuổi nói rằng các em thích đọc trong thời gian rảnh. Nhiều trẻ chẳng có lấy một cuốn sách. Tôi vừa đọc về Bookbanks – tổ chức đáng quý đặt sách miễn phí trong các ngân hàng thực phẩm. Cứ lấy về một cuốn mà đọc. Nhưng chúng ta vốn đã có điều đó rồi: hệ thống thư viện công cộng. Đứa trẻ lớn lên quen thuộc với thư viện địa phương là một đứa trẻ có đặc quyền, một đứa trẻ biết đọc, và là ai đó mà cuộc đời sẽ tinh tấn đến vô cùng: một người lớn biết đọc.

Tôi không thuộc nhóm đó. Tôi lớn lên ở Ai Cập, chẳng được tiếp cận thư viện nào. Nhưng có một hiệu sách tiếng Anh ở Cairo; tôi nhớ mình đã coi nơi này như thư viện: lẩn vào một góc, lấy xuống cuốn tôi đọc dở tuần trước, đọc cho tới khi bị gọi đi. Tôi đắm mình trong các tác phẩm của Arthur Ransome - Swallows and Amazons và những cuốn khác, được cuốn vào thế giới kỳ lạ của những đứa trẻ chèo thuyền trong khung cảnh sông nước và cỏ cây xanh rượi. Tôi bị hớp mất hồn, biến mất một lúc khỏi phông nền cánh đồng mía, hàng cọ và lạc đà (thật tẻ nhạt với tôi). Cuộc tiết lộ về những-cái-khác, về thời gian và không gian vượt khỏi chính mình: chúng là lời gợi nhắc đầu tiên cho trí tưởng tượng.

Lý do truyện cổ tích, thần thoại, truyền thuyết trước hết dành cho người lớn là vì chúng gợi ra những thế giới, hoàn cảnh nơi mọi thứ diễn ra khác biệt với cuộc sống của hầu hết mọi người: nơi bà mẹ kế độc ác bị trừng trị; nơi cô hầu phòng lấy được hoàng tử; nơi bạn có thể tìm ra chiếc nồi đầy vàng. Giờ người ta xem những điều này chỉ dành cho trẻ con; nhưng ở thời truyện kể được khai sinh, người ta hiểu rõ giá trị thực sự: chúng có quyền năng gợi mở một khả thể mới.

Có lẽ chúng ta đều cần đến câu chuyện, dù là trẻ con hay người lớn. Phim là câu chuyện, phần lớn truyền hình là câu chuyện, gần như mọi thứ được phát trực tuyến đều là câu chuyện. Từ lâu người ta đã quen miệng gọi các mục tin tức là “story”: “Anh/chị X có câu chuyện này.” Ranh giới giữa hư cấu và thực tế trở nên mờ nhạt. Thuở nhỏ ở Ai Cập, tôi mê mẩn Tales of Troy and Greece (Truyện kể về Thành Troy và Hi Lạp) của Andrew Lang. Đây là bản kể lại thần thoại Homer, hay đến mức làm tôi lẫn lộn những trận chiến trên đồng bằng thành Troy với những trận tăng chiến ở sa mạc Libya mà người lớn vẫn nhắc. Hiện thực và hư cấu lại bị lẫn vào nhau.

Đối với tôi, điều tôi đọc và trải nghiệm luôn khơi gợi các phản hồi liên quan đến truyện hư cấu. Tôi viết cho trẻ em trước khi viết cho người lớn. Có một thời gian ngắn tôi từng viết cho cả hai, rồi sau đó việc viết lách cho trẻ em rời khỏi tôi và tôi chỉ còn viết cho người lớn; đây là điều tiếc nuối. Giờ đây, tôi thấy những cuốn sách thiếu nhi ngày ấy thấm đẫm mối quan tâm và băn khoăn mà sau này xuất hiện trong các tiểu thuyết tôi viết. Sự vận hành của ký ức, sự hiện diện của quá khứ, những xung đột lợi ích: đó là những chủ đề đã truyền lửa đến cuốn The Ghost of Thomas Kempe viết cho trẻ em, và cũng truyền nhiều lửa như thế đến cuốn Moon Tiger viết cho người lớn. Tôi từ chối viết cho trẻ em theo lối xem các em là một loài khác. Tôi muốn để các em cảm nhận (tôi làm một cách chủ đích) rằng đằng sau và vượt ra ngoài câu chuyện các em đang đọc là gợi ý về bao điều mời gọi, một hơi thở từ tương lai, một hạt mầm lưu giữ điều mà một ngày nào đó các em sẽ hiểu.

Khi tôi đưa bản thảo tiểu thuyết đầu tay viết cho người lớn cho đại diện nhà xuất bản, ông ấy vui vẻ nhận in nhưng gợi ý tôi nên dùng bút danh khác. Ngụ ý là, vì người ta biết đến tôi như một tác giả sách thiếu nhi, một tiểu thuyết dưới tên thật có thể khiến nó không được coi trọng. Dĩ nhiên tôi từ chối, và tôi nghĩ quan điểm đó hẳn không phổ biến: cuốn sách được đưa vào danh sách rút gọn của giải The Booker. Tuy nhiên, tư tưởng ấy vẫn âm ỉ đâu đó. Katherine Rundell là ví dụ tuyệt vời cho một nhà văn vừa tinh tế khi viết cho trẻ, vừa là một học giả ưu tú khi viết cho người lớn. Trong cuốn sách nhỏ thông tuệ có tựa Why You Should Read Children’s Books, Even Though You Are So Old and Wise (Lý do bạn nên đọc sách thiếu nhi, dù rằng bạn đã đứng tuổi và thông thái), bà trích dẫn lời Martin Amis: “Nếu tôi bị chấn thương não nghiêm trọng, rất có thể tôi sẽ viết sách thiếu nhi.” Ôi trời. Nhưng tôi thích xem đó là quan điểm lẻ loi - một ý nghĩ mà Quỹ Booker đã bác bỏ bằng việc thành lập một giải thưởng nghiêm túc dành cho thể loại này.

Quan sát mọi thứ sắp diễn ra mới lý thú nhường nào. Có những nhà văn vốn đã luôn chìm đắm vào việc viết những câu chuyện mà tôi gần như liên hệ là “những quyển được gọi là sách thiếu nhi”. Họ vẫn sẽ tiếp tục làm điều trước nay vẫn làm. Nhưng có thể sẽ có thay đổi trong cách chúng ta nhìn nhận họ, và khả dĩ hơn là làn sóng quan tâm mới dành cho văn học thiếu nhi. Hãy hi vọng như vậy, và cùng trông đợi một tương lai với những nhà văn xuất sắc, và trên hết là có thêm nhiều độc giả nhỏ tuổi.

Penelope Lively là tác giả duy nhất từng đoạt cả giải The Booker và huy chương Carnegie cho sách thiếu nhi. Bà trình bày phiên bản rút ngắn của bài luận này trong bài phát biểu chính tại lễ trao giải The Booker 2025.

____

Đủng Đỉnh Đọc dịch từ bài viết "Why children's books matter" đăng trên báo The Observer.



Post a Comment

0 Comments